Sunday, February 1, 2026

Kinh KIM CANG

https://thuvienhoasen.org/images/file/TJs0o51G0QgQAFda/kinhkimcang.pdf

H.T THÍCH THANH T

Kinh Kim Cang



LĐẦU SÁCH

Trí tu Bát-nhã thđúng lý Trung đạo, không mc k hai bên có và không v.

v… Vì biết rõ vn vđều do nhân duyên sanh, nên không có ch th thì làm gì tht có

được; đủ duyên vn vt sanh thì làm sao nói tht không? Như kinh nói "chúng sanh

không phi chúng sanh, y gi là chúng sanh… Thế gii không phi thế gii, y gi là

thế gii…". "Không phi chúng sanh", vì duyên hp không có ch th. "Gi là chúng

sanh", vì gi tướng gi danh hin tin làm sao ph nhđược. To như thế gii cũng là

duyên hp không ch th, nên nói "không phi thế gii"; c th chúng sanh đang sng

nương nh trên thế gii thì gi tướng thế gii làm sao chi b được, nên nói "gi là thế

gii". Thế mà, có mt s người hc Pht nông ni nói: "Bát-nhã chp không". Qu tht

h là người rđáng thương, hc Pht mà hong s trí tu thì bao gi được giác ng.

Bát-nhã có công dng, có kh năng phá sch mi kiến chp. Người hc Pht cn

yếu phi nh nó để dp tan tt c kiến chp sai lm c hu, đã lôi kéo mình vào vòng

trm luân muôn vn kiếp ri. Nếu không tn dng cây kiếm Bát-nhã chđứt mi xing

xích kiến chp, chúng ta khó mong thoát khi luân hi. Diu dng kinh Kim Cang là 

đây vy.

Đọc toàn quyn kinh Kim Cang, chúng ta thy Pht phá sch không còn sót mt

kiến chp nào. Đây là qu bom, là khi cht n mnh làm n tung hai ngn núi kiến chp

ca chúng sanh. Có mt s người bo rng "Tng kinh Kim Cang nóng". H s tng kinh

Kim Cang, vì không chu ni sc công phá khc lit ca kinh này. Ngược li, Ngũ t

Hong Nhn khuyên người tu thin nên tng kinh Kim Cang và chính Ngài cũng đem

kinh Kim Cang ging cho Lc t Hu Năng nghe, nhân đó Lc t ng đạo.

Chúng tôi ging kinh Kim Cang ti Thin vin Thường Chiếu và các thin sinh ghi

ra t băng nha. Đọc qua bn ghi xong, chúng tôi đồng ý cho in ra để được nhiu người

xem. Tuy nhiên, không sao tránh khi vài điu sơ sót, xin quý v cm thông cho.

THÍCH THANH T

Viết ti Thin vin Thường Chiếu vào mùa An cư năm 1992.


KINH KIM CANG

GING

Bn ging này là y theo bn dch ca ngài Tam tng pháp sư Cưu-ma-la-thp, vì

bn này được công nhn là văn chương lưu loát và sâu sc hơn hết. Nếu xem li bn ca

ngài Nghĩa Tnh cũng như ca ngài Huyn Trang, chúng ta thy c hai bn dch đều nng

v văn nghĩa. Ngài La-thp không kt trong văn nghĩa, ch ct làm sao cho ta nhđược

li Pht dy, ý Pht nói, nên văn dch ca Ngài thâm thúy và gy gn d hiu.

Thái t Chiêu Minh đời Lương, khi đọc Kim Cang, lãnh hđược ý ch nên chia

quyn kinh làm ba mươi hai phđể cho ngườđọc d nhn hiu.

ĐỀ KINH: Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mt.

- Kim Cang là mt cht cng hay phá các th khác mà các kim loi khác không

phá được nó.

- Bát-nhã là âm theo tiếng Phn.

- Ba-la-mt là âm theo tiếng Phn.

- Kinh là ch Hán.

Đề kinh gm c ch Hán ln ch Phn. Người Trung Hoa khi dch kinh, ch nào

dch được thì dch, ch nào không th dch hết nghĩa thì để nguyên âm tiếng Phn.

Bát-nhã nghĩa chánh là trí tu.

Ba-la-mt hoc dch là đến b kia hoc dch là cu kíùnh viên mãn. Trí tu được

cu kính viên mãn gi là Bát-nhã ba-la-mt, vì nếu ch nói "trí tu" e có lm ln.  thế

gian người khôn ngoan lanh li cũng gi là người có trí tu, thế nên t ng "Trí tu Bát-

nhã" là để gin trch cho đừng lm vi trí tu ca người thế gian. Trí tu Bát-nhã là trí

tu thđược lý tht, thđược th chân tht ca các pháp, không còn kt trong các kiến

chp, trong nhng cái nhìn thiên lch chưa thđáo. Do thđược l tht, nên trí tu này

khi đến ch cu kính chng nhng phá được tt c tà thuyết ngođạo mà còn dp hết

nhng mê lm chp trước ca mi người. Cho nên kh năng công phá đó vượt hơn tt c,

d như kim cương là cht cng nht có th phá tan các kim loi khác mà các th kháckhông phá hođược nó. Kim Cang Bát-nhã ba-la-mt là mt trí tu vng chc, kiên c

phá dp tt c tà thuyết ngođạo làm cho chúng ta sch hết nhng chp trước sai lm,

nhng mê m đen tđể đến b gii thoát, giác ng.

Kinh là nhng li ging dy cđức Pht góp li thành b. Kinh là khế kinh tc là

khế lý và khế cơ. Tt c nhng kinh Phđều phđủ hai nghĩa khế lý khế cơ, nghĩa là

va hp chân lý, va hp căn cơ người. Thiếu mt trong hai điu k trên thì chưa gi là

kinh được, vì ch yếu cđạo Pht ct giáo hóa chúng sanh giác ng, thđược l tht

(đúng chân lý) và chúng sanh tin nhđược (hp căn cơ). Khế cơ và khế lý còn có th

hiu là tùy duyên và bt biến. Kinh Pht nói ngàn đời cũng không sai, đó là bt biến;

nhưng vào mi thi theo căn cơ mà nói, hoc thp hoc cao, đó là tùy duyên.ĐON 1

ÂM:

PHÁP HI NHÂN DO.

Như th ngã văn: Nht thi Pht ti Xá-v quc, K th Cp Cô Độc viên d đại

T-kheo chúng thiên nh bách ngũ thp nhân câu. Nhĩ thi Thế Tôn thc thi, trước y trì

bát, nhp Xá-v đại thành kht thc. Ư k thành trung th đệ kht dĩ, hoàn chí bn x.

Phn thc ngtù, thu y bát, ty túc dĩ, phu tòa nhi ta.

DCH:

NGUYÊN DO CA PHÁP HI.

Tôi nghe như vy: Mt hôm đức Ph nước Xá-v (Sràvasti) ti rng K-đà

(Jeta) trong vườn Cp Cô Độc cùng vi chúng đại T-kheo là mt ngàn hai trăm năm

mươi v. Khi y gđến gi th trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-v

kht thc. Trong thành y, Ngài theo th lp kht thc xong, tr v nơi chúng . Th trai

ri, Ngài dp y bát, ra chân, tri tòa ngi.

GING:

Đon này din t pháp hi Pht nói kinh Kim Cang.

Phđầu ch cho lc chng chng tín. Sáu điu này m đầu kinh nào cũng như thế

cĐây ging như mt li biên bn ca ngài A-nan (Ananda) để cho thy li Ngài nói có

giá triï tht.

"Như th ngã văn" là "Tôi nghe như vy", ch cho người nghe và pháp được nghe.

"Tôi" ch người nghe tc ngài A-nan. "Như vy" là pháp được nghe tc là đề tài trong

bui thuyết pháp.

"Nht thi" ch thi gian. Vì thu xưa thi gian mi nước mi khác cho nên ch

nói mt hôm, ch không xác định hôm đó là my gi ngày my tháng my.

Pht là v ch ta trong bui nói pháp.

Xá-v quc, K th Cp Cô Độc viên là nơi Pht thuyết pháp.K th Cp Cô Độc viên: Trưởng gi Cp Cô Độc tên tht là Tu-đạt-đa (Sudatta),

do ông hay b thí, cu giúp nhng người nghèo kh cô độc nên được gi là Cp Cô Độc.

Ông mun mua vườn ca thái t K-đà để ct tinh xá thnh Phđến thuyết pháp. Thái t

bo ông đem vàng lót đầy vườn thì thái t s bán vườn cho ông. Khi ông tri vàng gn

xong, thái t vui v bo thôi đừng ch vàng thêm na và thái t cũng xin cúng tt c cây

ci trong vườn cho đức Pht, do đó nên thành tên rng K-đà vườn Cp Cô Độc.

Chúng đại T-kheo gm mt ngàn hai trăm năm mươi v là c ta. Thi gian, nơi

chn và s c ta cho thy bài kinh này không phi t ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe

trong hi thuyết pháp gm c thy mt ngàn hai trăm năm mươi v T-kheo.

Sáu điu trên đây gi là lc chng chng tín, nghĩa là sáu điu làm bng chng để

cho chúng ta tin kinh này không phi t ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thut li

bui thuyết pháp cđức Pht.

Đến phn th hai t cnh Pht sp nói pháp.

Khi y là bui sáng gđến gi th trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành

Xá-v kht thc.

Kht thc theo th lp: Nếu hàng pht t thnh th trai thì không cn theo th lp,

c đi thng đến nhà thnh mình. Còn kht thc theo th lp, là trong xóm có nhà nghèo,

nhà giàu, c tun t đến nhà th nht, nếu không được cúng dường thì đến nhà th hai,

th ba v. v… không phân bit giàu nghèo đến khi được cúng dường thì v.

Th trai xong, xếp y, dp bát, ra chân ri, tri tòa ngi kiết già. Đon này t li

cuc sng bình d cđức Pht, sáng đi kht thc, v ăn xong ra bát, xếp y, ra chân,

tri tòa ngi kiết già, sp nói chuyn vi chúng. Đó là ý thâm sâu mun ch rng chân lý

không ngoài vic bình thường để đánh tan lòng hiếu k, tưởng chân lý là nhng gì mu

nhim ngoài vic bình thường. Thđược chân lý trong vic bình thường là thđạo, nếu

trái li là lc hướng.

Khi ngài Triu Châu Tùng Thm hi ngài Nam Tuyn "Thế nào là đạo? " thì Nam

Tuyn tr li "Bình thường tâm th đạo", nghĩa là tâm bình thường là đạo.

Ông Lý Tường đến hi ngài Dược Sơn Duy Nghim "Thế nào là đạo? " Ngài bo

"Vân ti thanh thiên, thy ti bình", nghĩa là mây trên tri xanh


KINH KIM CANG

GING

Bn ging này là y theo bn dch ca ngài Tam tng pháp sư Cưu-ma-la-thp, vì

bn này được công nhn là văn chương lưu loát và sâu sc hơn hết. Nếu xem li bn ca

ngài Nghĩa Tnh cũng như ca ngài Huyn Trang, chúng ta thy c hai bn dch đều nng

v văn nghĩa. Ngài La-thp không kt trong văn nghĩa, ch ct làm sao cho ta nhđược

li Pht dy, ý Pht nói, nên văn dch ca Ngài thâm thúy và gy gn d hiu.

Thái t Chiêu Minh đời Lương, khi đọc Kim Cang, lãnh hđược ý ch nên chia

quyn kinh làm ba mươi hai phđể cho ngườđọc d nhn hiu.

ĐỀ KINH: Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mt.

- Kim Cang là mt cht cng hay phá các th khác mà các kim loi khác không

phá được nó.

- Bát-nhã là âm theo tiếng Phn.

- Ba-la-mt là âm theo tiếng Phn.

- Kinh là ch Hán.

Đề kinh gm c ch Hán ln ch Phn. Người Trung Hoa khi dch kinh, ch nào

dch được thì dch, ch nào không th dch hết nghĩa thì để nguyên âm tiếng Phn.

Bát-nhã nghĩa chánh là trí tu.

Ba-la-mt hoc dch là đến b kia hoc dch là cu kíùnh viên mãn. Trí tu được

cu kính viên mãn gi là Bát-nhã ba-la-mt, vì nếu ch nói "trí tu" e có lm ln.  thế

gian người khôn ngoan lanh li cũng gi là người có trí tu, thế nên t ng "Trí tu Bát-

nhã" là để gin trch cho đừng lm vi trí tu ca người thế gian. Trí tu Bát-nhã là trí

tu thđược lý tht, thđược th chân tht ca các pháp, không còn kt trong các kiến

chp, trong nhng cái nhìn thiên lch chưa thđáo. Do thđược l tht, nên trí tu này

khi đến ch cu kính chng nhng phá được tt c tà thuyết ngođạo mà còn dp hết

nhng mê lm chp trước ca mi người. Cho nên kh năng công phá đó vượt hơn tt c,

d như kim cương là cht cng nht có th phá tan các kim loi khác mà các th kháckhông phá hođược nó. Kim Cang Bát-nhã ba-la-mt là mt trí tu vng chc, kiên c

phá dp tt c tà thuyết ngođạo làm cho chúng ta sch hết nhng chp trước sai lm,

nhng mê m đen tđể đến b gii thoát, giác ng.

Kinh là nhng li ging dy cđức Pht góp li thành b. Kinh là khế kinh tc là

khế lý và khế cơ. Tt c nhng kinh Phđều phđủ hai nghĩa khế lý khế cơ, nghĩa là

va hp chân lý, va hp căn cơ người. Thiếu mt trong hai điu k trên thì chưa gi là

kinh được, vì ch yếu cđạo Pht ct giáo hóa chúng sanh giác ng, thđược l tht

(đúng chân lý) và chúng sanh tin nhđược (hp căn cơ). Khế cơ và khế lý còn có th

hiu là tùy duyên và bt biến. Kinh Pht nói ngàn đời cũng không sai, đó là bt biến;

nhưng vào mi thi theo căn cơ mà nói, hoc thp hoc cao, đó là tùy duyên.


ĐON 1

ÂM:

PHÁP HI NHÂN DO.

Như th ngã văn: Nht thi Pht ti Xá-v quc, K th Cp Cô Độc viên d đại

T-kheo chúng thiên nh bách ngũ thp nhân câu. Nhĩ thi Thế Tôn thc thi, trước y trì

bát, nhp Xá-v đại thành kht thc. Ư k thành trung th đệ kht dĩ, hoàn chí bn x.

Phn thc ngtù, thu y bát, ty túc dĩ, phu tòa nhi ta.

DCH:

NGUYÊN DO CA PHÁP HI.

Tôi nghe như vy: Mt hôm đức Ph nước Xá-v (Sràvasti) ti rng K-đà

(Jeta) trong vườn Cp Cô Độc cùng vi chúng đại T-kheo là mt ngàn hai trăm năm

mươi v. Khi y gđến gi th trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-v

kht thc. Trong thành y, Ngài theo th lp kht thc xong, tr v nơi chúng . Th trai

ri, Ngài dp y bát, ra chân, tri tòa ngi.

GING:

Đon này din t pháp hi Pht nói kinh Kim Cang.

Phđầu ch cho lc chng chng tín. Sáu điu này m đầu kinh nào cũng như thế

cĐây ging như mt li biên bn ca ngài A-nan (Ananda) để cho thy li Ngài nói có

giá triï tht.

"Như th ngã văn" là "Tôi nghe như vy", ch cho người nghe và pháp được nghe.

"Tôi" ch người nghe tc ngài A-nan. "Như vy" là pháp được nghe tc là đề tài trong

bui thuyết pháp.

"Nht thi" ch thi gian. Vì thu xưa thi gian mi nước mi khác cho nên ch

nói mt hôm, ch không xác định hôm đó là my gi ngày my tháng my.

Pht là v ch ta trong bui nói pháp.

Xá-v quc, K th Cp Cô Độc viên là nơi Pht thuyết pháp.K th Cp Cô Độc viên: Trưởng gi Cp Cô Độc tên tht là Tu-đạt-đa (Sudatta),

do ông hay b thí, cu giúp nhng người nghèo kh cô độc nên được gi là Cp Cô Độc.

Ông mun mua vườn ca thái t K-đà để ct tinh xá thnh Phđến thuyết pháp. Thái t

bo ông đem vàng lót đầy vườn thì thái t s bán vườn cho ông. Khi ông tri vàng gn

xong, thái t vui v bo thôi đừng ch vàng thêm na và thái t cũng xin cúng tt c cây

ci trong vườn cho đức Pht, do đó nên thành tên rng K-đà vườn Cp Cô Độc.

Chúng đại T-kheo gm mt ngàn hai trăm năm mươi v là c ta. Thi gian, nơi

chn và s c ta cho thy bài kinh này không phi t ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe

trong hi thuyết pháp gm c thy mt ngàn hai trăm năm mươi v T-kheo.

Sáu điu trên đây gi là lc chng chng tín, nghĩa là sáu điu làm bng chng để

cho chúng ta tin kinh này không phi t ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thut li

bui thuyết pháp cđức Pht.

Đến phn th hai t cnh Pht sp nói pháp.

Khi y là bui sáng gđến gi th trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành

Xá-v kht thc.

Kht thc theo th lp: Nếu hàng pht t thnh th trai thì không cn theo th lp,

c đi thng đến nhà thnh mình. Còn kht thc theo th lp, là trong xóm có nhà nghèo,

nhà giàu, c tun t đến nhà th nht, nếu không được cúng dường thì đến nhà th hai,

th ba v. v… không phân bit giàu nghèo đến khi được cúng dường thì v.

Th trai xong, xếp y, dp bát, ra chân ri, tri tòa ngi kiết già. Đon này t li

cuc sng bình d cđức Pht, sáng đi kht thc, v ăn xong ra bát, xếp y, ra chân,

tri tòa ngi kiết già, sp nói chuyn vi chúng. Đó là ý thâm sâu mun ch rng chân lý

không ngoài vic bình thường để đánh tan lòng hiếu k, tưởng chân lý là nhng gì mu

nhim ngoài vic bình thường. Thđược chân lý trong vic bình thường là thđạo, nếu

trái li là lc hướng.

Khi ngài Triu Châu Tùng Thm hi ngài Nam Tuyn "Thế nào là đạo? " thì Nam

Tuyn tr li "Bình thường tâm th đạo", nghĩa là tâm bình thường là đạo.

Ông Lý Tường đến hi ngài Dược Sơn Duy Nghim "Thế nào là đạo? " Ngài bo

"Vân ti thanh thiên, thy ti bình", nghĩa là mây trên tri xanh, nước trong bình. Vic

bình thường này hp vi tinh thĐại tha.

Kinh KIM CANG

https://thuvienhoasen.org/images/file/TJs0o51G0QgQAFda/kinhkimcang.pdf H.T THÍCH THANH T Ừ Kinh Kim Cang L Ờ I  ĐẦ U SÁCH Trí tu ệ  Bát-nhã ...