https://thuvienhoasen.org/images/file/TJs0o51G0QgQAFda/kinhkimcang.pdf
H.T THÍCH THANH TỪ
Kinh Kim Cang
LỜI ĐẦU SÁCH
Trí tuệ Bát-nhã thấy đúng lý Trung đạo, không mắc kẹt ở hai bên có và không v.
v… Vì biết rõ vạn vật đều do nhân duyên sanh, nên không có chủ thể thì làm gì thật có
được; đủ duyên vạn vật sanh thì làm sao nói thật không? Như kinh nói "chúng sanh
không phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh… Thế giới không phải thế giới, ấy gọi là
thế giới…". "Không phải chúng sanh", vì duyên hợp không có chủ thể. "Gọi là chúng
sanh", vì giả tướng giả danh hiện tiền làm sao phủ nhận được. To như thế giới cũng là
duyên hợp không chủ thể, nên nói "không phải thế giới"; cụ thể chúng sanh đang sống
nương nhờ trên thế giới thì giả tướng thế giới làm sao chối bỏ được, nên nói "gọi là thế
giới". Thế mà, có một số người học Phật nông nổi nói: "Bát-nhã chấp không". Quả thật
họ là người rất đáng thương, học Phật mà hoảng sợ trí tuệ thì bao giờ được giác ngộ.
Bát-nhã có công dụng, có khả năng phá sạch mọi kiến chấp. Người học Phật cần
yếu phải nhờ nó để dẹp tan tất cả kiến chấp sai lầm cố hữu, đã lôi kéo mình vào vòng
trầm luân muôn vạn kiếp rồi. Nếu không tận dụng cây kiếm Bát-nhã chặt đứt mọi xiềng
xích kiến chấp, chúng ta khó mong thoát khỏi luân hồi. Diệu dụng kinh Kim Cang là ở
đây vậy.
Đọc toàn quyển kinh Kim Cang, chúng ta thấy Phật phá sạch không còn sót một
kiến chấp nào. Đây là quả bom, là khối chất nổ mạnh làm nổ tung hai ngọn núi kiến chấp
của chúng sanh. Có một số người bảo rằng "Tụng kinh Kim Cang nóng". Họ sợ tụng kinh
Kim Cang, vì không chịu nổi sức công phá khốc liệt của kinh này. Ngược lại, Ngũ tổ
Hoằng Nhẫn khuyên người tu thiền nên tụng kinh Kim Cang và chính Ngài cũng đem
kinh Kim Cang giảng cho Lục tổ Huệ Năng nghe, nhân đó Lục tổ ngộ đạo.
Chúng tôi giảng kinh Kim Cang tại Thiền viện Thường Chiếu và các thiền sinh ghi
ra từ băng nhựa. Đọc qua bản ghi xong, chúng tôi đồng ý cho in ra để được nhiều người
xem. Tuy nhiên, không sao tránh khỏi vài điều sơ sót, xin quý vị cảm thông cho.
THÍCH THANH TỪ
Viết tại Thiền viện Thường Chiếu vào mùa An cư năm 1992.
KINH KIM CANG
GIẢNG
Bản giảng này là y theo bản dịch của ngài Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập, vì
bản này được công nhận là văn chương lưu loát và sâu sắc hơn hết. Nếu xem lại bản của
ngài Nghĩa Tịnh cũng như của ngài Huyền Trang, chúng ta thấy cả hai bản dịch đều nặng
về văn nghĩa. Ngài La-thập không kẹt trong văn nghĩa, chỉ cốt làm sao cho ta nhận được
lời Phật dạy, ý Phật nói, nên văn dịch của Ngài thâm thúy và gẫy gọn dễ hiểu.
Thái tử Chiêu Minh đời Lương, khi đọc Kim Cang, lãnh hội được ý chỉ nên chia
quyển kinh làm ba mươi hai phần để cho người đọc dễ nhận hiểu.
ĐỀ KINH: Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật.
- Kim Cang là một chất cứng hay phá các thứ khác mà các kim loại khác không
phá được nó.
- Bát-nhã là âm theo tiếng Phạn.
- Ba-la-mật là âm theo tiếng Phạn.
- Kinh là chữ Hán.
Đề kinh gồm cả chữ Hán lẫn chữ Phạn. Người Trung Hoa khi dịch kinh, chữ nào
dịch được thì dịch, chữ nào không thể dịch hết nghĩa thì để nguyên âm tiếng Phạn.
Bát-nhã nghĩa chánh là trí tuệ.
Ba-la-mật hoặc dịch là đến bờ kia hoặc dịch là cứu kíùnh viên mãn. Trí tuệ được
cứu kính viên mãn gọi là Bát-nhã ba-la-mật, vì nếu chỉ nói "trí tuệ" e có lầm lẫn. Ở thế
gian người khôn ngoan lanh lợi cũng gọi là người có trí tuệ, thế nên từ ngữ "Trí tuệ Bát-
nhã" là để giản trạch cho đừng lầm với trí tuệ của người thế gian. Trí tuệ Bát-nhã là trí
tuệ thấu được lý thật, thấy được thể chân thật của các pháp, không còn kẹt trong các kiến
chấp, trong những cái nhìn thiên lệch chưa thấu đáo. Do thấu được lẽ thật, nên trí tuệ này
khi đến chỗ cứu kính chẳng những phá được tất cả tà thuyết ngoại đạo mà còn dẹp hết
những mê lầm chấp trước của mọi người. Cho nên khả năng công phá đó vượt hơn tất cả,
dụ như kim cương là chất cứng nhất có thể phá tan các kim loại khác mà các thứ kháckhông phá hoại được nó. Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật là một trí tuệ vững chắc, kiên cố
phá dẹp tất cả tà thuyết ngoại đạo làm cho chúng ta sạch hết những chấp trước sai lầm,
những mê mờ đen tối để đến bờ giải thoát, giác ngộ.
Kinh là những lời giảng dạy của đức Phật góp lại thành bộ. Kinh là khế kinh tức là
khế lý và khế cơ. Tất cả những kinh Phật đều phải đủ hai nghĩa khế lý khế cơ, nghĩa là
vừa hợp chân lý, vừa hợp căn cơ người. Thiếu một trong hai điều kể trên thì chưa gọi là
kinh được, vì chủ yếu của đạo Phật cốt giáo hóa chúng sanh giác ngộ, thấy được lẽ thật
(đúng chân lý) và chúng sanh tin nhận được (hợp căn cơ). Khế cơ và khế lý còn có thể
hiểu là tùy duyên và bất biến. Kinh Phật nói ngàn đời cũng không sai, đó là bất biến;
nhưng vào mỗi thời theo căn cơ mà nói, hoặc thấp hoặc cao, đó là tùy duyên.ĐOẠN 1
ÂM:
PHÁP HỘI NHÂN DO.
Như thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên dữ đại
Tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu. Nhĩ thời Thế Tôn thực thời, trước y trì
bát, nhập Xá-vệ đại thành khất thực. Ư kỳ thành trung thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bổn xứ.
Phạn thực ngậtù, thu y bát, tẩy túc dĩ, phu tòa nhi tọa.
DỊCH:
NGUYÊN DO CỦA PHÁP HỘI.
Tôi nghe như vầy: Một hôm đức Phật ở nước Xá-vệ (Sràvasti) tại rừng Kỳ-đà
(Jeta) trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm
mươi vị. Khi ấy gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-vệ
khất thực. Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng ở. Thọ trai
rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi.
GIẢNG:
Đoạn này diễn tả pháp hội Phật nói kinh Kim Cang.
Phần đầu chỉ cho lục chủng chứng tín. Sáu điều này mở đầu kinh nào cũng như thế
cả. Đây giống như một lối biên bản của ngài A-nan (Ananda) để cho thấy lời Ngài nói có
giá triï thật.
"Như thị ngã văn" là "Tôi nghe như vầy", chỉ cho người nghe và pháp được nghe.
"Tôi" chỉ người nghe tức ngài A-nan. "Như vầy" là pháp được nghe tức là đề tài trong
buổi thuyết pháp.
"Nhất thời" chỉ thời gian. Vì thuở xưa thời gian mỗi nước mỗi khác cho nên chỉ
nói một hôm, chớ không xác định hôm đó là mấy giờ ngày mấy tháng mấy.
Phật là vị chủ tọa trong buổi nói pháp.
Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên là nơi Phật thuyết pháp.Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên: Trưởng giả Cấp Cô Độc tên thật là Tu-đạt-đa (Sudatta),
do ông hay bố thí, cứu giúp những người nghèo khổ cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc.
Ông muốn mua vườn của thái tử Kỳ-đà để cất tinh xá thỉnh Phật đến thuyết pháp. Thái tử
bảo ông đem vàng lót đầy vườn thì thái tử sẽ bán vườn cho ông. Khi ông trải vàng gần
xong, thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa và thái tử cũng xin cúng tất cả cây
cối trong vườn cho đức Phật, do đó nên thành tên rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Độc.
Chúng đại Tỳ-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị là cử tọa. Thời gian, nơi
chốn và số cử tọa cho thấy bài kinh này không phải tự ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe
trong hội thuyết pháp gồm cả thảy một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.
Sáu điều trên đây gọi là lục chủng chứng tín, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để
cho chúng ta tin kinh này không phải tự ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thuật lại
buổi thuyết pháp của đức Phật.
Đến phần thứ hai tả cảnh Phật sắp nói pháp.
Khi ấy là buổi sáng gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành
Xá-vệ khất thực.
Khất thực theo thứ lớp: Nếu hàng phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ lớp,
cứ đi thẳng đến nhà thỉnh mình. Còn khất thực theo thứ lớp, là trong xóm có nhà nghèo,
nhà giàu, cứ tuần tự đến nhà thứ nhất, nếu không được cúng dường thì đến nhà thứ hai,
thứ ba v. v… không phân biệt giàu nghèo đến khi được cúng dường thì về.
Thọ trai xong, xếp y, dẹp bát, rửa chân rồi, trải tòa ngồi kiết già. Đoạn này tả lại
cuộc sống bình dị của đức Phật, sáng đi khất thực, về ăn xong rửa bát, xếp y, rửa chân,
trải tòa ngồi kiết già, sắp nói chuyện với chúng. Đó là ý thâm sâu muốn chỉ rằng chân lý
không ngoài việc bình thường để đánh tan lòng hiếu kỳ, tưởng chân lý là những gì mầu
nhiệm ngoài việc bình thường. Thấy được chân lý trong việc bình thường là thấy đạo, nếu
trái lại là lạc hướng.
Khi ngài Triệu Châu Tùng Thẩm hỏi ngài Nam Tuyền "Thế nào là đạo? " thì Nam
Tuyền trả lời "Bình thường tâm thị đạo", nghĩa là tâm bình thường là đạo.
Ông Lý Tường đến hỏi ngài Dược Sơn Duy Nghiễm "Thế nào là đạo? " Ngài bảo
"Vân tại thanh thiên, thủy tại bình", nghĩa là mây trên trời xanh
KINH KIM CANG
GIẢNG
Bản giảng này là y theo bản dịch của ngài Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập, vì
bản này được công nhận là văn chương lưu loát và sâu sắc hơn hết. Nếu xem lại bản của
ngài Nghĩa Tịnh cũng như của ngài Huyền Trang, chúng ta thấy cả hai bản dịch đều nặng
về văn nghĩa. Ngài La-thập không kẹt trong văn nghĩa, chỉ cốt làm sao cho ta nhận được
lời Phật dạy, ý Phật nói, nên văn dịch của Ngài thâm thúy và gẫy gọn dễ hiểu.
Thái tử Chiêu Minh đời Lương, khi đọc Kim Cang, lãnh hội được ý chỉ nên chia
quyển kinh làm ba mươi hai phần để cho người đọc dễ nhận hiểu.
ĐỀ KINH: Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật.
- Kim Cang là một chất cứng hay phá các thứ khác mà các kim loại khác không
phá được nó.
- Bát-nhã là âm theo tiếng Phạn.
- Ba-la-mật là âm theo tiếng Phạn.
- Kinh là chữ Hán.
Đề kinh gồm cả chữ Hán lẫn chữ Phạn. Người Trung Hoa khi dịch kinh, chữ nào
dịch được thì dịch, chữ nào không thể dịch hết nghĩa thì để nguyên âm tiếng Phạn.
Bát-nhã nghĩa chánh là trí tuệ.
Ba-la-mật hoặc dịch là đến bờ kia hoặc dịch là cứu kíùnh viên mãn. Trí tuệ được
cứu kính viên mãn gọi là Bát-nhã ba-la-mật, vì nếu chỉ nói "trí tuệ" e có lầm lẫn. Ở thế
gian người khôn ngoan lanh lợi cũng gọi là người có trí tuệ, thế nên từ ngữ "Trí tuệ Bát-
nhã" là để giản trạch cho đừng lầm với trí tuệ của người thế gian. Trí tuệ Bát-nhã là trí
tuệ thấu được lý thật, thấy được thể chân thật của các pháp, không còn kẹt trong các kiến
chấp, trong những cái nhìn thiên lệch chưa thấu đáo. Do thấu được lẽ thật, nên trí tuệ này
khi đến chỗ cứu kính chẳng những phá được tất cả tà thuyết ngoại đạo mà còn dẹp hết
những mê lầm chấp trước của mọi người. Cho nên khả năng công phá đó vượt hơn tất cả,
dụ như kim cương là chất cứng nhất có thể phá tan các kim loại khác mà các thứ kháckhông phá hoại được nó. Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật là một trí tuệ vững chắc, kiên cố
phá dẹp tất cả tà thuyết ngoại đạo làm cho chúng ta sạch hết những chấp trước sai lầm,
những mê mờ đen tối để đến bờ giải thoát, giác ngộ.
Kinh là những lời giảng dạy của đức Phật góp lại thành bộ. Kinh là khế kinh tức là
khế lý và khế cơ. Tất cả những kinh Phật đều phải đủ hai nghĩa khế lý khế cơ, nghĩa là
vừa hợp chân lý, vừa hợp căn cơ người. Thiếu một trong hai điều kể trên thì chưa gọi là
kinh được, vì chủ yếu của đạo Phật cốt giáo hóa chúng sanh giác ngộ, thấy được lẽ thật
(đúng chân lý) và chúng sanh tin nhận được (hợp căn cơ). Khế cơ và khế lý còn có thể
hiểu là tùy duyên và bất biến. Kinh Phật nói ngàn đời cũng không sai, đó là bất biến;
nhưng vào mỗi thời theo căn cơ mà nói, hoặc thấp hoặc cao, đó là tùy duyên.
ĐOẠN 1
ÂM:
PHÁP HỘI NHÂN DO.
Như thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên dữ đại
Tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu. Nhĩ thời Thế Tôn thực thời, trước y trì
bát, nhập Xá-vệ đại thành khất thực. Ư kỳ thành trung thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bổn xứ.
Phạn thực ngậtù, thu y bát, tẩy túc dĩ, phu tòa nhi tọa.
DỊCH:
NGUYÊN DO CỦA PHÁP HỘI.
Tôi nghe như vầy: Một hôm đức Phật ở nước Xá-vệ (Sràvasti) tại rừng Kỳ-đà
(Jeta) trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm
mươi vị. Khi ấy gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-vệ
khất thực. Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng ở. Thọ trai
rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi.
GIẢNG:
Đoạn này diễn tả pháp hội Phật nói kinh Kim Cang.
Phần đầu chỉ cho lục chủng chứng tín. Sáu điều này mở đầu kinh nào cũng như thế
cả. Đây giống như một lối biên bản của ngài A-nan (Ananda) để cho thấy lời Ngài nói có
giá triï thật.
"Như thị ngã văn" là "Tôi nghe như vầy", chỉ cho người nghe và pháp được nghe.
"Tôi" chỉ người nghe tức ngài A-nan. "Như vầy" là pháp được nghe tức là đề tài trong
buổi thuyết pháp.
"Nhất thời" chỉ thời gian. Vì thuở xưa thời gian mỗi nước mỗi khác cho nên chỉ
nói một hôm, chớ không xác định hôm đó là mấy giờ ngày mấy tháng mấy.
Phật là vị chủ tọa trong buổi nói pháp.
Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên là nơi Phật thuyết pháp.Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên: Trưởng giả Cấp Cô Độc tên thật là Tu-đạt-đa (Sudatta),
do ông hay bố thí, cứu giúp những người nghèo khổ cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc.
Ông muốn mua vườn của thái tử Kỳ-đà để cất tinh xá thỉnh Phật đến thuyết pháp. Thái tử
bảo ông đem vàng lót đầy vườn thì thái tử sẽ bán vườn cho ông. Khi ông trải vàng gần
xong, thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa và thái tử cũng xin cúng tất cả cây
cối trong vườn cho đức Phật, do đó nên thành tên rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Độc.
Chúng đại Tỳ-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị là cử tọa. Thời gian, nơi
chốn và số cử tọa cho thấy bài kinh này không phải tự ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe
trong hội thuyết pháp gồm cả thảy một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.
Sáu điều trên đây gọi là lục chủng chứng tín, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để
cho chúng ta tin kinh này không phải tự ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thuật lại
buổi thuyết pháp của đức Phật.
Đến phần thứ hai tả cảnh Phật sắp nói pháp.
Khi ấy là buổi sáng gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành
Xá-vệ khất thực.
Khất thực theo thứ lớp: Nếu hàng phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ lớp,
cứ đi thẳng đến nhà thỉnh mình. Còn khất thực theo thứ lớp, là trong xóm có nhà nghèo,
nhà giàu, cứ tuần tự đến nhà thứ nhất, nếu không được cúng dường thì đến nhà thứ hai,
thứ ba v. v… không phân biệt giàu nghèo đến khi được cúng dường thì về.
Thọ trai xong, xếp y, dẹp bát, rửa chân rồi, trải tòa ngồi kiết già. Đoạn này tả lại
cuộc sống bình dị của đức Phật, sáng đi khất thực, về ăn xong rửa bát, xếp y, rửa chân,
trải tòa ngồi kiết già, sắp nói chuyện với chúng. Đó là ý thâm sâu muốn chỉ rằng chân lý
không ngoài việc bình thường để đánh tan lòng hiếu kỳ, tưởng chân lý là những gì mầu
nhiệm ngoài việc bình thường. Thấy được chân lý trong việc bình thường là thấy đạo, nếu
trái lại là lạc hướng.
Khi ngài Triệu Châu Tùng Thẩm hỏi ngài Nam Tuyền "Thế nào là đạo? " thì Nam
Tuyền trả lời "Bình thường tâm thị đạo", nghĩa là tâm bình thường là đạo.
Ông Lý Tường đến hỏi ngài Dược Sơn Duy Nghiễm "Thế nào là đạo? " Ngài bảo
"Vân tại thanh thiên, thủy tại bình", nghĩa là mây trên trời xanh, nước trong bình. Việc
bình thường này hợp với tinh thần Đại thừa.